Thứ Sáu, 22 tháng 11, 2013

Đau lưng và sự hình thành gai cột sống

Các chứng đau lưng thông thường là tình trạng của một cột sống lành mạnh bị “trục trặc” do ảnh hưởng của môi trường lao động, hoạt động thể thao, suy thoái do tuổi già, hoặc sự mất cân bằng giữa khả năng lao động của cột sống với yêu cầu lao động hàng ngày.
Xin chỉ nêu các chứng đau lưng điển hình ở vùng thắt lưng L5-S1, là đoạn đốt sống di động bị nhiều đe dọa nhất.
Các thành phần cấu tạo đoạn đốt sống di động đều trải qua quá trình thoái hóa theo tuổi tác. Đó là một quá trình suy mòn tất yếu xảy ra với tất cả mọi người, thường thấy đĩa đệm bị suy mòn sớm và rõ nhất, sau đó đến các thành phần khác.
Lần lượt xảy ra 4 giai đoạn:
1. Lỏng lẻo đoạn đốt sống di động.
2. Lồi đĩa đệm.
3. Thoát vị đĩa đệm.
4. Hình thành gai cột sống.
Có thể gặp một trong các hiện tượng thoái hóa sau đây:

1. Thoái hóa bình thường theo tuổi tác

- Đĩa đệm giảm bớt nước và xẹp thấp dần.
- Đoạn đốt sống di động lỏng lẻo dần.
- Các dây chằng tăng cường xiết chặt đoạn đốt sống di động.
a. Toàn bộ quá trình thoái hóa theo tuổi tác diễn biến âm thầm, không gây chứng đau lưng nào cho đến hết tuổi già.
b. Chứng đau lưng do các trục trặc nhỏ của cột sống.
Cũng đôi khi xuất hiện sớm hiện tượng thoái hóa này khiến nhiều bệnh nhân trẻ thấy đau lưng. Chụp X-quang cột sống hoàn toàn lành mạnh, bình thường. Đặc điểm chung của nhóm bệnh này là:
- Rất trẻ (thanh thiếu niên).
- Học hành hoặc lao động rất căng thẳng suốt ngày đêm.
- Không tập thể dục, không chơi thể thao.
Đây thuộc nhóm bệnh cung của cột sống rất yếu, không đáp ứng được nhu cầu làm việc cao. Bệnh xuất hiện rất sớm, có khi trước thời kỳ thoái hóa nên không thấy hình ảnh gai cột sống.
Nếu bệnh nhân thực hiện đầy đủ phác đồ điều trị sau:
- Nằm nghỉ ngơi.
- Dùng thuốc giảm đau chống viêm.
- Tập thể dục chữa bệnh thích hợp.
Bệnh sẽ khỏi nhanh chóng; Nếu tiếp tục luyện tập thể dục bệnh sẽ không tái phát.
Đau lưng và sự hình thành gai cột sống
Ảnh minh họa
2. Mức độ thoái hóa thứ hai
- Đĩa đệm mất nước và khô nhanh hơn.
- Các dây chằng xiết chặt nhưng ít hiệu quả.
- Các bắp thịt phải hoạt động tăng cường, quá sức.
- Các bắp thịt đau cứng: tính chất đau kiểu cơ học khu trú ở vùng đoạn đốt sống bị bệnh.
- Hình thành các gai cột sống phía trước và hai bên để hỗ trợ đoạn đốt sống di động (không gây đau đớn).
3. Mức độ thoái hóa thứ ba
- Đĩa đệm mất nước và khô nhanh hơn nữa.
- Vòng xơ đĩa đệm bị nứt (nhất là vòng xơ ở phía sau).
- Nhân đĩa đệm thâm nhập vào các khe nứt vòng xơ.
- Đĩa đệm lồi ra phía sau, kích thích dây chằng dọc sau cột sống gây đau.
- Nếu đĩa đệm lồi ra phía trước, sẽ kích thích thêm sự hình thành gai cột sống và không gây đau.
- Các bắp thịt hoạt động hỗ trợ quá mức, co cứng và đau.
- Ơ Ûgiai đoạn này tính chất đau cơ học biểu hiện thêm: Bệnh nhân ngồi mau mỏi hơn, khi cúi lưng ra trước không thể thẳng lưng trở lại.
* Chứng đau cấp tính do kẹt đĩa đệm:
Khi cúi lưng ra trước chuẩn bị nhấc một vật nặng, khe sau liên đốt sống thắt lưng, cùng mở rộng, nhân đĩa đệm bị đẩy ra phía sau vào chỗ nứt vòng xơ sau.

Nạn nhân gồng mạnh các cơ vùng lưng định đứng thẳng đột ngột nhấc vật nặng lên.
Khe trước liên đốt sống chưa kịp mở rộng để đón nhận đĩa đệm còn nằm ở phía sau thì khe sau liên đốt sống đã khép hẹp lại, kẹp chặt nhân đĩa đệm và càng làm lồi thêm ra phía sau, làm căng mạnh dây chằng dọc sau cột sống. Bệnh nhân cảm thấy đau dữ dội như điện giật, vứt bỏ vật nặng và nằm lăn ra đất (đau do dây chằng dọc sau có dây thần kinh bị kích thích).
4. Mức độ thoái hóa thứ tư
- Vòng xơ đĩa đệm thủng hoàn toàn.
- Nhân đĩa đệm rách thòi ra khỏi vòng xơ.
- Dây chằng dọc sau do bị đẩy căng cũng bị rách.
- Nhân đĩa đệm thòi ra ngoài dây chằng.
- Nhân đĩa đệm thoái vị chèn ép rễ thần kinh ở vùng lỗ tiếp hợp.
- Rễ thần kinh đau do bị viêm kích thích.
- Gai cột sống tiếp tục phát triển để cố định cột sống (không phải nguyên nhân gây đau).
Tính chất đau ở loại này gồm:
- Đau khu trú tại vùng bệnh kiểu cơ học.
- Đau lan truyền xuống chân.
Kết luận:
Các chứng đau lưng thông thường xảy ra trên cột sống do các trục trặc nhỏ không đáp ứng được công thức:
Cung = Cầu
Những yếu tố bị kích thích đau là các cơ, dây chằng và rễ thần kinh.
Gai cột sống xuất hiện ở giai đoạn cuối cùng không gây đau và còn góp phần làm hết các nguyên nhân đau khác (trừ trường hợp chèn ép rễ thần kinh do gai mỏm khớp sau).
Chúng ta có thể chữa khỏi các chứng đau lưng thông thường và phòng tránh bệnh không xảy ra nếu biết quan tâm chăm sóc chu đáo cột sống để đảm bảo cân bằng giữa cung và cầu. Cụ thể bằng các biện pháp sau đây:
1. Tránh hoặc hạn chế các tư thế lao động nguy hiểm (ngồi chồm hổm, cử động vừa cúi - ngửa lưng vừa xoay vặn mình).
2. Tuân theo các quy cách lao động an toàn.
3. Lao động hợp lý xen kẽ với nghỉ ngơi.
4. Cải tiến các phương tiện làm việc (ghế ngồi phải có tựa lưng…).
5. Khai thác tối đa các ưu đãi của thiên nhiên (ánh sáng, thực phẩm và rau quả tươi sống) để nâng cao sức khỏe.
6. Giải trí và nghỉ ngơi lành mạnh; tránh các thú tiêu khiển gây hại cho sức khỏe.
Đặc biệt quan trọng nhất là:
Học tính kiên trì luyện tập cơ thể của trẻ sơ sinh, phải tập luyện liên tục trong vòng 1 năm mới có thể đứng vững trên hai chân và đi lại bình thường.
Như câu tục ngữ đã tổng kết:
“3 tháng biết lẫy
7 tháng biết bò
10 tháng lò dò biết đi”
Muốn “thích ứng với tư thế cột sống thẳng đứng” cũng phải mỗi ngày tập thể dục phù hợp với tình trạng cá nhân mình, chú trọng các động tác nâng cao sức mạnh của cột sống.
Sưu tầm

Bệnh đau dây thần kinh tọa đang trẻ hóa

Đau thần kinh tọa (hay còn gọi là đau dây thần kinh hông to) là đau dây thần kinh từ mông xuống chân, nguyên nhân chủ yếu do cột sống thắt lưng có vấn đề, ví dụ như bị thoái hóa, gai, vôi , cụp, trượt, lồi và thoát vị đĩa đệm… sẽ dẫn đến chèn ép dây thần kinh và gây nên đau. Nếu không điều trị kịp thời sẽ gây ra teo cơ và yếu chân.
Hiện có rất nhiều phụ nữ trẻ trong các khu công nghiệp, trong văn phòng phải nhập viện vì đau lưng đến độ không chịu nổi. Vị trí đau thường là thắt lưng, ngồi xổm càng đau nhưng nằm thì đỡ. Đối với nam giới phải ngồi nhiều cũng vậy. Thường là đau thắt lưng chạy xuống chân. Cứ ngồi lâu trên 30 phút là đau. Khi đi khám, bác sĩ cho biết bị đau dây thần kinh tọa do bệnh nghề nghiệp.
Đau dây thần kinh tọa thường xuất hiện khi làm việc gì đó gắng sức như nhấc một vật nặng bỗng đau nhói vùng thắt lưng, đau lan xuống mông, chân theo đường đi của dây thần kinh hông. Ban đêm thường đau tăng lên nhưng khi nằm nghỉ ngơi trên giường có nền cứng, đầu gối hơi co lại thì đau có thể giảm và bệnh nhân thấy dễ chịu hơn. Ngoài đau có thể thấy tê cóng, dấu hiệu kiến bò hoặc như ai đó dùng kim châm phía bờ ngoài bàn chân chéo qua mu bàn chân đến ngón cái hoặc ngón út. Khi sờ vào vùng thắt lưng thấy cơ lưng phản ứng cứng. Cột sống mất đường cong sinh lý bình thường. Bệnh nhân có tư thế ngay lưng, vẹo người để chống đỡ với triệu chứng đau.
Bệnh đau dây thần kinh tọa đang trẻ hóa
Đau thần kinh tọa (Ảnh minh họa)
Nguyên nhân gây đau dây thần kinh tọa có rất nhiều nhưng hay gặp là do làm việc gắng sức, tư thế làm việc không hợp lý, thoát vị đĩa đệm, hẹp ống sống nguyên phát hay thứ phát do hậu quả của hư đĩa đệm, gây chèn ép rễ thần kinh liên quan, hẹp lỗ gian đốt sống, viêm ngoài màng cứng… Đau dây thần kinh tọa không nhất thiết cứ phải gặp ở người lớn tuổi mà ngay cả những người trẻ tuổi bị thoái hóa đĩa đệm. Đau dây thần kinh tọa nếu không có biện pháp chữa trị triệt để sẽ dẫn đến liệt và teo cơ. Điều trị đau dây thần kinh tọa quan trọng nhất là điều trị nguyên nhân, sử dụng nhiều biện pháp như nội, ngoại, đông tây y. Kết hợp tại chỗ với toàn thân, coi trọng các biện pháp vật lý trị liệu và phục hồi chức năng, kết hợp giữa tự điều trị của người bệnh và có sự giúp đỡ của thầy thuốc. Tuy nhiên bệnh hay tái phát, những đợt tái phát lại thường diễn ra nặng hơn. Để tìm ra cách điều trị lâu dài, không ảnh hưởng tới sức khỏe, dễ áp dụng, nhóm nghiên cứu của PGS.TS Đỗ Thị Phương, ĐH Y Hà Nội đã đưa Cốt Thoái Vương- một thực phẩm chức năng vào điều trị cho những người bị đau dây thần kinh tọa. Thành phần chính của sản phẩm này là dầu vẹm xanh có tác dụng kháng viêm mạnh. Trên thực nghiệm thấy thuốc có tác dụng giảm đau chống viêm, chống thoái hoá cột sống . 64 bệnh nhân được chọn chia ra làm 2 nhóm: nhóm I (nhóm nghiên cứu): 32 bệnh nhân dùng điện châm kết hợp uống viên cốt thoái vương 4 viên/ngày; Nhóm II (nhóm đối chứng) gồm 32 bệnh nhân dùng điện châm đơn thuần. Liệu trình điều trị là 21 ngày cho cả 2 nhóm.
Sau điều trị, bệnh nhân đạt kết quả loại A (kết quả tốt) ở nhóm I chiếm 21,9%; nhóm II chiếm 9,4%. Không có bệnh nhân nào đạt kết quả loại D ở cả hai nhóm. PGS. Phương cho biết, nghiên cứu trên cho thấy viên Cốt Thoái Vương có tác dụng rất tốt trong cải thiện các triệu chứng của bệnh nhân đau thần kinh tọa. Ngoài ra, Cốt Thoái Vương còn giúp bổ sung các yếu tố làm vững cột sống, tăng độ linh động của sụn khớp, xương, giúp phòng và hỗ trợ điều trị thoái hóa cột sống và thoát vị đĩa đệm.
 Sưu tầm

Nguyên nhân và triệu chứng gai cột sống

Khoảng 50% bệnh nhân đến khám bệnh cơ – xương – khớp mang nỗi ám ảnh bị bệnh gai cột sống được phát hiện tình cờ hoặc khi đau lưng chụp phim thấy các “gia”. Cũng không ít thầy thuốc gán cho các “gai” này là nguồn gốc của mọi đau đớn ở lưng. 
Còn đối với bệnh nhân, thật là “lạnh xương sống” khi tưởng tượng các gai quáy ác ấy đâm vào tủy sống hay rễ thần. Không ít người yêu cầu bác sĩ mổ đục bỏ các gai ấy đi và nếu bạn giải thích rằng trong tất cả các trường hợp mổ như thế thì chưa cần thiết thì chưa chắc họ tin bạn đâu! Vậy chúng ta thử tìm hiểu xem bản chất bệnh gai cột sống là gì? Tại sao tạo gai? Các gai này có gây đau lưng không? Và điều trị bệnh ra sao, có cần đục bỏ các gai ấy không?

Bản chất bệnh “gai” cột sống


Có lẽ từ “gai” này được quần chúng đón nhận một cách rộng rãi. Tuy nhiên, về y học “gai”cột sống chỉ là một dấu hiệu của bệnh thoái hoá cột sống. Các tổn thương thoái hoá có thể xảy ra ở:

- Mấu khớp sau: Làm hẹp khe khớp, xơ đặc xương và tạo các “cựa xương”, khó thấy trên phim.

- Đĩa gian đốt sống (đĩa sống)

- Thân đốt sống: Bị xơ đặc xương, tạo các “gai xương” ở nơi bám vào dây chằng, có thể chèn ép tủy sống, rễ thần kinh và hiếm hơn là các mạch máu. Trên phim X-quang, ta thấy hình ảnh “gai xương” là do hình chiếu trên mặt phẳng hai chiều, trong thực tế thì đó chính là một vành xương phản ứng

Ở người trẻ tuổi, nước chiếm 80% nhân đĩa sống. Về già, nhân đĩa sống mất dần khả năng kết hợp với nước nên tính chất đàn hồi bị giảm và vòng sợi bao quanh bị đứt đoạn. Do đó, khi có áp lực đè lên thì đĩa sống bị thoái hoá và xẹp đi. Các chất trong nhân đĩa sống thoát ra làm tách các dây chằng nối 2 đốt sống và kích thích phản ứng tại chỗ mô sợi hoá calci (hoá vôi) hoặc hoá xương. Và như vậy, các gai xương được hình thành và sẽ thấy được trên phim X – quang. Thân đốt sống bị xơ đặc là di chứng của sự thoái hoá đĩa sống.

Đĩa sống bị hẹp cũng dẫn đến việc hẹp lỗ tiếp hợp (là nơi mà rễ thần kinh đi qua) do phình dây chằng dọc trước, có thể do “gai” xương ở phía trước và do các mấu khớp nhô vào ở phía sau.

Khi đĩa sống bị vỡ, nhân nhầy ở giữa có thể thoát ra phía sau gây chèn ép rễ thần kinh hoặc tủy sống (bệnh thoái vị nhân đĩa sống, ví dụ bệnh đau dây thần kinh toạ).

Như vậy, gai xương sống là hậu quả của quá trình thoái hoá đĩa sống, và là nguyên nhân gây “đau lưng” trong một số trường hợp (chứ không phải là tất cả).
Triệu chứng của bệnh thoái hóa cột sống

- Đau tại chỗ và đơ lưng: Có thể do tổn thương dây chằng cạnh xương khớp hoặc bao khớp hay co thắt cơ cạnh cột sống.

- Triệu chứng chèn ép rễ thần kinh: Thường gặp ở cột sống cổ do gai xương đè lên vì kích thước ống sống và lỗ tiếp hợp ở đoạn này hẹp. Triệu chứng gồm đau cổ, chạy lan xuống cánh tay và vai. Cánh tay và bàn tay có thể bị yếu đi và dị cảm (cảm giác như kiến bò, nóng rát…).

Ở cột sống lưng: Hiếm gặp, đau rễ thần kinh thường vòng theo lồng ngực. Cần phân biệt do đau với bệnh tim, bệnh herpes, viêm túi mật và bệnh lý màng phổi và nhất là bệnh lý ung thư.

Ở cột sống thắt lưng: Gây đau thần kinh toạ. Đau ở thắt lưng, lan xuống mông và có thể lan xuống cẳng chân và bàn chân. Cơn đau có thể tăng lên khi ho và khi rặn đi cầu. Trường hợp nặng, có thể gây rối loạn về cảm giác và vận động.

- Chèn ép tủy sống: Có thể gây ra bệnh lý tủy, mất cảm giác 2 bên mông, bí tiểu.

- Chèn ép các cơ quan sinh tồn: Có thể xảy ra ở cột sống cổ. “Gai” xương lớn ở phía trước có thể gây khó nuốt, khàn tiếng, ho. Chèn ép động mạch sống có thể gây ra thiếu máu ở vùng tủy sống và đáy não với các triệu chứng chóng mặt, nhìn một hình thành hai, nhức đầu, hoặc múa vờn. Các triệu chứng này thay đổi theo vị trí cổ và đầu.
Hà Phương

Bệnh loãng xương ở người cao tuổi

Loãng xương là một bệnh đứng thứ hai sau bệnh tim mạch ở người cao tuổi người cao tuổi và cũng là bệnh dễ đe dọa đến tính mạng của họ. Ngày nay, bệnh loãng xương đang có xu hướng gia tăng ở khắp toàn cầu, trong số đó người cao tuổi và đặc biệt là phụ nữ chiếm tỷ lệ cao nhất (cứ 3 phụ nữ cao tuổi thì có 1 người bị loãng xương).
Loãng xương được định nghĩa là sự rối loạn nội tiết theo lực của xương bị suy giảm và cấu trúc xương bị tổn hại dẫn đến dễ bị gãy, nứt, rạn.

Biện pháp giúp xương chắc khỏe hơn là tập thể dục

Ảnh minh họa
Nguyên nhân gây loãng xương
Loãng xương hay còn gọi là xốp xương, tức là tỷ trọng khoáng chất của bộ xương ở một cơ thể bị suy giảm một cách đáng kể, trong đó hormone sinh dục (estrogen, androgen), các chất protein, vitamin D và canxi đóng vai trò đáng kể. Người ta thấy rằng, chế độ dinh dưỡng hàng ngày không cấp đủ chất canxi hoặc vì một lý do nào đó cơ thể không hấp thu được canxi (ăn kiêng kéo dài, chế độ ăn nghèo nàn, kém chất lượng).
Loãng xương cũng có thể do mắc một số bệnh về tuyến thượng thận, cường giáp trạng, suy thận, bệnh yếu liệt chi, chấn thương, hoặc bệnh mạn tính phải nằm dài ngày, hoặc do lạm dụng thuốc corticoides trong một thời gian dài...
 Đặc biệt ở phụ nữ đến thời kỳ tiền mãn kinh và mãn kinh thì lượng hormone estrogen trong máu bị suy giảm một cách đáng kể bởi sự suy thoái của buồng trứng. Vì lý do này mà làm tăng hoạt tính của tế bào tủy xương, làm cho khối lượng xương sẽ mất dần theo năm tháng kể từ khi mãn kinh (mỗi năm mất khoảng từ 2 - 4%).
 Ngoài yếu tố về chế độ dinh dưỡng và nội tiết tố còn có nhiều yếu tố thuận lợi (nguy cơ) làm cho bệnh loãng xương ở người cao tuổi tăng lên nếu như trên cơ thể người đó có tiền sử bị còi xương lúc còn nhỏ, hàng ngày ít vận động, béo phì.
Một số tác giả đã tổng kết thấy có tới 7 nguyên nhân chính gây nên bệnh Loãng xương giới tính (tỷ lệ nữ Loãng xương chiếm nhiều hơn nam): di truyền, tuổi tác, cân nhẹ (chỉ số Ic < 19), hút thuốc lá, dùng thuốc corticoides lâu dài.
Một số triệu chứng chính và hậu quả của bệnh loãng xương
Giảm mật độ xương và Loãng xương là một bệnh mạn tính kéo dài nhiều tháng, nhiều năm, một cách âm thầm, không đau đớn nên nhiều người bệnh không để ý đến. Hầu hết các trường hợp trong giai đoạn đầu không có triệu chứng gì đặc hiệu ngoài những dấu hiệu mệt mỏi, ăn uống kém, nhức xương không thường xuyên. Càng về sau sự thiếu hụt chất canxi càng tăng làm cho xương xuống cấp nghiêm trọng (loãng, xốp xương) thì các triệu chứng đau nhức rõ rệt hơn. Đau nhức xương hay gặp là đau lưng, đau chân tay, các khớp và mỏi bại hông, đặc biệt là các khớp xương chịu lực mạnh như: xương sống, khớp gối, khớp cổ chân, khớp háng, các xương dài như: xương đùi, xương cẳng chân, xương cánh tay, cẳng tay, đốt sống thắt lưng và dễ dàng bị gãy xương do bị ngã, vấp... Đau nhức xương và các khớp xương thường rõ nhất vào ban đêm.
Một số triệu chứng khác như chuột rút cũng thường hay xuất hiện ở những người Loãng xương. Khi bị bệnh Loãng xương không được phát hiện hoặc phát hiện rồi nhưng điều trị không đúng phác đồ thì hậu quả xấu nhất là rạn xương, nứt, vỡ hoặc gãy xương. Trên thế giới, người ta thấy rằng cứ 30 giây thì có một người bị bệnh gãy xương do Loãng xương và người ta dự đoán rằng đến năm 2050 các nước châu Á, trong đó có nước ta sẽ chiếm 50% các trường hợp tàn phế hoặc bị đe dọa đến tính mạng do gãy khớp háng vì Loãng xương gây ra.
Phát hiện bệnh loãng xương
người cao tuổi nên đi khám bệnh về xương khớp ở các cơ sở y tế có đủ điều kiện để được làm các xét nghiệm về cận lâm sàng đánh giá mật độ của xương và tình trạng của xương. Hiện nay chưa có phương pháp đo lường trực tiếp lực của xương nên chỉ đo lường gián tiếp. Một trong những phương pháp đó là đo mật độ chất khoáng trong xương (bone mineral density) bằng kỹ thuật DXA hay còn gọi là đo mật độ xương, chụp X quang cột sống, xương tay chân... Ngoài ra, những người kém phát triển chiều cao, cân nặng dưới 40kg, giảm trọng lượng nhanh, cơ bắp yếu, thiếu hormone sinh dục (nữ giới là estrogen và nam giới là androgen), người nghiện rượu, sử dụng corticoides kéo dài, nghiện thuốc lá... cũng nên kiểm tra mật độ của xương.
Khi người cao tuổi đã được chẩn đoán bị bệnh Loãng xương thì việc điều trị đòi hỏi phải kiên trì. Một trong những yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị Loãng xương là người bệnh không tuân thủ phác đồ điều trị. Các nghiên cứu cho thấy rằng, chỉ cần quên uống một liều thuốc trong vòng một tuần lễ thì hiệu quả điều trị đã giảm xuống đến 64%. Uống thuốc gì, liều lượng bao nhiêu và trong thời gian nào là do thầy thuốc khám bệnh và có chỉ định cụ thể.
Khi đã bị Loãng xương phải hết sức cẩn thận khi làm các động tác mạnh, đi lại cũng phải hết sức cẩn thận tránh ngã, vấp, khuỵu, gập chân, tay, nhất là lên cầu thang vì rất dễ gây gãy xương đặc biệt là xương đùi. Gãy cổ xương đùi là một cấp cứu ngoại khoa nặng vì dễ dàng gây sốc và hậu quả xấu khó lường.
Phòng bệnh loãng xương ở người cao tuổi
Cần khám định kỳ theo lời hẹn của thầy thuốc. Việc phát hiện sớm và điều trị ngay từ đầu rất có ý nghĩa để phòng bệnh Loãng xương và ngăn ngừa gãy xương. Khi đã bị gãy xương do Loãng xương thì càng hết sức thận trọng không để gãy xương tái phát. Muốn phòng bệnh Loãng xương, tốt nhất là ăn uống đủ chất, nhất là các loại thức ăn giàu canxi, protein, vitamin D như: tôm, cua, ốc, uống sữa và các chế phẩm của sữa có chứa nhiều thành phần canxi, sinh tố D. Nên ăn thêm trái cây, rau, giá đỗ (chứa nhiều estrogen) vì chúng có khả năng làm thay đổi sự chuyển hóa của xương, giảm tốc độ mất xương và làm tăng khoáng chất cho xương. Cần tập thể dục nhẹ nhàng, đều đặn như: đi bộ, tập hít thở, tập vận động các khớp xương. Những người đã bị Loãng xương không nên làm các động tác mạnh, gấp gáp và tránh ngã, vấp.
Nguồn: Sưu tầm

Biện pháp giúp xương chắc khỏe hơn

Biện pháp giúp xương chắc khỏe hơn
Mặc dù chứng loãng xương không trực tiếp gây tử vong, nhưng hậu quả của gãy xương có thể góp phần gây tử vong sớm hơn. Vậy làm thế nào để ngăn ngừa và phòng chống loãng xương? Bạn hãy tham khảo các biện pháp đơn giản dưới đây sẽ giúp xương chắc khỏe hơn.
Hãy bảo vệ bộ xương của bạn luôn chắc khoẻ
Ăn đúng cách:
Bước đầu, hãy bổ sung 1.000mg canxi mỗi ngày – và tốt hơn là bạn nên bổ sung thông qua chế độ ăn nếu có thể. Nguồn thực phẩm tốt nhất là sản phẩm từ sữa ít béo và sữa chua hoặc các loại cá như cá hồi và cá mòi đóng hộp. Các loại rau xanh như cải xoăn, súp lơ xanh, rau chân vịt cũng rất giàu canxi. Các loại quả sấy khô như sung, nho Hi Lạp và ngũ cốc ăn sáng được tăng cường canxi cũng là nguồn thực phẩm tốt bổ sung canxi cho cơ thể.

Biện pháp giúp xương chắc khỏe hơn là tập thể dục
 Ảnh minh họa
Tập thể dục:
 Tập thể dục thường xuyên giúp xương luôn chắc khoẻ.
Một phương pháp quan trọng khác để củng cố xương của bạn là tập thể dục. Giáo sư ProfSkelton cảnh báo “Nghiên cứu chỉ ra rằng nếu không tập thể dục, bạn sẽ loại bỏ nhanh toàn bộ lượng canxi bổ sung vào cơ thể thay vì lưu giữ nó trong xương. Bạn nên đặt ra mục tiêu lý tưởng là 150 phút hoạt động điều độ mỗi tuần
Bổ sung thêm Vitamin D:
Vitamin D giúp cơ thể hấp thụ canxi. Mặc dù một lượng nhỏ có trong dầu cá, nhưng nguồn cung cấp chính là nhờ tác động của ánh sáng mặt trời lên da của bạn. Ước tính khoảng một nửa trong số chúng ta thiếu vitamin D do ít thời gian vận động ngoài trời. Chỉ cần 10 phút tiếp xúc với ánh nắng mỗi ngày có thể giảm 1/3 nguy cơ bị loãng xương.
Kiểm soát mức độ căng thẳng:
“Căng thẳng ở mức độ cao khiến cơ thể sản sinh ra hóc môn cortisol gây mất xương,” giáo sư ProfSkelton cho biết. “Căng thẳng kéo dài sẽ làm tăng nguy cơ loãng xương. Tập yoga, đi dạo hay nghe nhạc có thể xua tan căng thẳng”. 
 Ngọc Thạch

Nguyên nhân gây đau lưng ở người cao tuổi

Đau lưng có hai nguyên nhân cơ bản:
Đau lưng do tác động cơ học: đây là loại đau lưng hay gặp ở lứa tuổi đã trưởng thành và đặc biệt là người cao tuổi như: thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đôi cột sống... Thoái hóa cột sống thường hay xảy ra ở vị trí sụn khớp và đĩa đệm, bởi do hiện tượng trọng lực của cơ thể quá nặng tác động hàng ngày lên cột sống và cả tác động của trọng lực đè lên vai gáy rồi tác động xuống hệ thống đốt sống (ví dụ như ngồi làm việc nhiều giờ không vận động). Khi cột sống bị thoái hóa thì triệu chứng đau lưng được thể hiện khá sớm. Ngoài các nguyên nhân do bệnh thoái hóa cột sống thì có những nguyên nhân thuộc về cơ học như: mang vác nặng, thay đổi tư thế đột ngột hoặc bưng, bê không cân xứng...

Nguyên nhân gây đau lưng ở người cao tuổi

 Khám chữa bệnh đau lưng ở người cao tuổi (Ảnh minh họa)
Đau lưng do hiện tượng viêm: trong các nguyên nhân gây viêm có thể xảy ra ngay tại cột sống như: viêm đĩa đệm, lao cột sống, ung thư cột sống, viêm khớp cùng chậu... Cũng có nhiều trường hợp đau lưng nhưng lại do viêm nhiễm ở một cơ quan khác trong cơ thể như: viêm phần phụ ở nữ giới (viêm tiểu khung, viêm buồng trứng...), viêm dạ dày - tá tràng, viêm tiết niệu (do sỏi hoặc do vi khuẩn)... Các loại bệnh trên thường gây đau lưng một cách âm ỉ, đặc biệt hay xảy ra vào ban đêm và đau lưng cùng một lúc với các triệu chứng chính của bệnh (ví dụ như người bị đau dạ dày, sỏi tiết niệu). Những nguyên nhân này cũng thường gặp ở người cao tuổi nhiều hơn người trẻ tuổi.
Chẩn đoán nguyên nhân đau lưng
Đau lưng chỉ là một triệu chứng của nhiều bệnh. Trước hết, người bị đau lưug nên xem đau lưng có từ bao giờ và có những hiện tượng gì liên quan đến đau lưng hay không? đau lưng vào thời gian nào trong ngày, đau có liên tục không, cơn đau có dữ dội hay âm ỉ? Ngoài đau lưng còn có triệu chứng nào liên quan như: tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu són, nước tiểu có máu, nước tiểu đục hoặc sau mang vác nặng; bưng bê vật nặng, sai tư thế (nhất là người cao tuổi hay chăm sóc cây cảnh bưng bê chậu cảnh sai tư thế, quá nặng...).
Có thể tự tìm thấy một số dấu hiệu hoặc hiện tượng có khả nghi nhưng không nên tự chẩn đoán bệnh khi không có chuyên môn thực sự về y tế, mà nên đi khám bệnh ở những cơ sở y tế có đủ điều kiện và trang thiết bị chẩn đoán. Khi đến khám, bệnh nhân cần nói rõ cho thầy thuốc biết những hiện tượng đau lưng và các biểu hiện kèm theo như vừa nêu ở phần trên. Bác sĩ có thể cho làm các xét nghiệm có liên quan, ví dụ như nghi thoái hóa cột sống, lồi đĩa đệm thì có thể cho chụp X-quang, chụp cắt lớp vi tính, chụp cộng hưởng từ; khi nghi do sỏi đường tiết niệu ngoài chụp X-quang ổ bụng, thầy thuốc sẽ cho siêu âm hệ thống niệu (thận, niệu quản, bàng quang), làm xét nghiệm về nước tiểu...
Biện pháp khắc phục đau lưng
Khi biết rõ nguyên nhân gây đau lưng, thầy thuốc sẽ có chỉ định cụ thể trong điều trị. Khi giải quyết được nguyên nhân thì triệu chứng đau lưng cũng biến mất, ví dụ thấy sỏi đường tiết niệu có thể dùng các kỹ thuật thích hợp để tán sỏi hay mổ lấy sỏi (mổ nội soi hay mổ phanh...). Tuy vậy, cũng có nhiều trường hợp mặc dù biết rõ căn nguyên nhưng giải quyết triệt để căn nguyên đó lại không hề đơn giản. Ví dụ như thoái hóa cột sống, lồi đĩa đệm. Nhiều nhà chuyên môn khuyên rằng, khi biết rõ nguyên nhân gây đau lưng thì cần tìm mọi cách để giải quyết nguyên nhân và sau khi đã điều trị khỏi chứng đau lưng thì không nên để tái phát nguyên nhân đó, bởi vì theo họ, nếu để tái phát thì đau lưng còn tăng hơn nhiều lần so với trước.
Ngoài việc tìm căn nguyên để điều trị, các việc làm khác hỗ trợ cũng rất cần thiết như tập thể dục nhẹ nhàng tùy theo sức và bệnh của mình. Các động tác đi bộ hoặc tập thể dục cho người thoái hóa cột sống cũng rất cần tham khảo ý kiến của bác sĩ điều trị, theo dõi sức khỏe cho mình.
Việc dùng thuốc để điều trị căn nguyên gây đau lưng không phải tùy tiện mà cần tuân thủ y lệnh một cách tuyệt đối của bác sĩ. Tuyệt đối không được tự mua thuốc để điều trị hoặc cùng một lúc cả thuốc Tây y lẫn Đông y. Trong điều kiện cho phép, có thể điều trị Đông - Tây y kết hợp, ví dụ như uống thuốc Tây y kết hợp xoa bóp, châm cứu, bấm huyệt hoặc vật lý liệu pháp. Người cao tuổi cũng đừng quên đi khám bệnh định kỳ để được theo dõi bệnh một cách liên tục đề phòng bệnh đau lưng tái phát.
Hiện nay, những sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, không gây tác dụng phụ, giúp hỗ trợ điều trị đau lưng do thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân lựa chọn. Tại bệnh viện trung ương Quân đội 108,  GS.TS Nguyễn Văn Thông thực hiện trên 141 bệnh nhân bị đau thắt lưng do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, chia thành 2 nhóm: 1 nhóm sử dụng phác đồ nền và 1 nhóm dùng phác đồ nền kết hợp với Cốt Thoái Vương. Kết quả cho thấy: nhóm kết hợp dùng Cốt Thoái Vương có tác dụng giảm đau nhanh, cải thiện vận động cột sống thắt lưng tốt hơn so với nhóm không sử dụng Cốt Thoái Vương.

Các chuyên gia lưu ý, ngay khi có hiện tượng đau thắt lưng, bệnh nhân cần đi khám để được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Bên cạnh việc uống Cốt Thoái Vương hàng ngày, người bệnh tuân thủ phác đồ điều trị của bác sĩ, không mang vác quá sức hay làm việc sai tư thế,...

DS Hà Phương

Bệnh đau lưng ở người cao tuổi

Thoái hóa cột sống là nguyên nhân cơ bản gây bệnh đau lưng ở người cao tuổi, bao gồm hai trường hợp chính:
Đau lưng do tác động cơ học: loại đau lưng hay gặp ở lứa tuổi đã trưởng thành và đặc biệt là người cao tuổi như: thoái hóa cột sống, thoát vị đĩa đệm, gai đôi cột sống… Thoái hóa cột sống thường hay xảy ra ở vị trí sụn khớp và đĩa đệm do hiện tượng trọng lực của cơ thể quá nặng tác động hàng ngày lên cột sống trong thời gian dài. Khi cột sống bị thoái hóa thì triệu chứng đau lưng được thể hiện khá sớm. Ngoài các nguyên nhân do thoái hóa cột sống thì có những nguyên nhân thuộc về cơ học như: mang vác nặng, thay đổi tư thế đột ngột hoặc bưng, bê vác không cân xứng.
Đau lưng do hiện tượng viêm: nguyên nhân gây viêm có thể xảy ra ngay tại cột sống như: viêm đĩa đệm, lao cột sống, ung thư cột sống, viêm khớp cùng chậu… Cũng có nhiều trường hợp đau lưng nhưng lại do viêm nhiễm ở một cơ quan khác trong cơ thể như: viêm phần phụ ở nữ giới, viêm dạ dày – tá tràng, viêm tiết niệu … Các loại bệnh trên thường gây đau lưng một cách âm ỉ, đặc biệt hay xảy ra vào ban đêm và cùng một lúc với các triệu chứng chính của bệnh (ví dụ như người bị đau dạ dày, sỏi tiết niệu). Những nguyên nhân này cũng thường gặp ở người cao tuổi nhiều hơn người trẻ tuổi.
 bệnh đau lưng ở người cao tuổi
Người cao tuổi dễ mắc đau lưng (ảnh minh họa)
 Ta biết, người có tư thế đứng thẳng: cột sống là cái trụ chính cùng với các khối cơ ở lưng giữ vững sự thẳng đứng và mọi hoạt động của thân thể. Cột sống dài chừng 50 cm có 32 đốt (7 đốt cổ, 12 đốt lưng, 5 đốt thắt lưng, 5 đốt cùng và 3 đến 4 đốt cụt). Giữa các đốt có những dây chằng và các khối cơ bám vào.
Ở người cao tuổi, cơ thể suy yếu, các đốt thường bị mất nhiều chất vôi, các dây chằng ít nhiều bị xơ, các cơ cũng mất tính cường kiện. Cột sống và các khối cơ không đủ sức giữ vững sự thẳng đứng và đáp ứng nhu cầu hoạt động mạnh mẽ của cơ thể. Do đó, phần lớn người cao tuổi thường bị chứng đau lưng.
Ở người trẻ, đau lưng có thể do chấn thương cột sống hay do bệnh ở gần cột sống gây nên nhất là ở thận (lao thận, viêm thận...)
Còn đối với người bình thường đau lưng thường là do sinh hoạt không hợp lí gây nên, thí dụ: Làm công việc và lao động nặng quá sức như gánh vác, xúc đất, bổ củi, bê nâng vật nặng... dễ gây nên những chấn thương ở cột sống hay dây chằng hoặc bị bong gân kể cả bị ngã.
Những người làm công tác văn phòng chỉ ngồi một chỗ cũng dễ đau lưng vì các khối cơ lưng phải giữ lâu một tư thế, ít vận động nên bị mỏi. Người lao động nghề may, thợ mộc, thợ nề cũng dễ bị đau lưng do phải cúi nhiều. Những người hay ngồi xổm cũng dễ bị đau lưng và đau gối khi đứng lên ngồi xuống. Vì thế, muốn tránh bệnh đau lưng ta không nên mang vác nặng quá sức, cần tập thể dục đều đặn, có chế độ ăn uống phù hợp, bổ sung can-xi cho các lứa tuổi nhất là người cao tuổi.
Khi bị đau lưng, cần điều trị bằng xoa bóp (mát-xa) sau mỗi buổi lao động. Nếu bị đau lưng kéo dài và do bệnh tật thì cần đi khám và chữa ngay
DS Hà Phương